Tài liệu đi Lào

Saturday, January 22, 2011

Em góp nhặt khắp nơi để dành làm kinh nghiệm đi chơi.

Bạn Quỳnh Dung, chủ nhân Blog Thichdibui đã có một chuyến đi lang thang bằng đường bộ từ Việt Nam sang Lào, Thái Lan với những ghi chép dọc đường thú vị. Được sự đồng ý của tác giả, Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online xin giới thiệu và trích đăng nhật ký lữ hành nhiều kỳ đã đăng tải trên blog cá nhân của bạn Quỳnh Dung.

Kỳ 1: Tìm đường sang Lào

Qua Bờ Y

Thường từ Sài Gòn muốn đi Lào bằng đường bộ thì người ta ra Huế, rồi từ Huế đi xe đến cửa khẩu Lao Bảo ở Quảng Trị. Tuy nhiên, tôi muốn đi qua một cửa khẩu khác: cửa khẩu Bờ Y của Gia Lai, tiếp giáp ở cực Nam của Lào.

Đọc báo thấy từ Quy Nhơn có xe buýt đi Lào, thế là tôi mua vé xe lửa đi Quy Nhơn. Bởi vì đây là chuyến đi xe đầu tiên trong những tháng đi bụi sắp tới, tôi đã chịu chi 430.000 đồng cho một giường mềm, dự định ngủ một giấc cho thật đã rồi bắt đầu chuyến đi "lang thang”.

1. Khi đến Quy Nhơn rồi tôi mới biết ở đây chỉ thỉnh thoảng mới có xe đi cửa khẩu Bờ Y. Nếu muốn đi ngay, tôi phải đón xe đi Kontum. Thế là tôi có một ngày đêm bất đắc dĩ tham quan thành phố Quy Nhơn. Xung quanh bến xe Quy Nhơn có nhiều nhà nghỉ, yên tĩnh hơn và không khí trong lành hơn những khu khác. Tuy nhiên, tôi đã ở Nhà khách của Quy Nhơn nằm trên đường Trần Hưng Đạo. Con đường có nhiều xe tải chạy nên rất bụi bặm và cách bến xe khoảng 5-7 km. Trong phòng có máy nước nóng, bình thủy nước nóng để pha trà và truyền hình cáp, giá chỉ có 100.000 đồng/đêm.

Thức ăn ở Quy Nhơn khá ngon và rẻ. Một tô mì Quảng chỉ có 7.000 – 8.000 đồng. Bánh xèo Quy Nhơn cũng đặc biệt hơn ở miền Nam. Ở đây, người bán lấy bánh xèo gói vào trong bánh tráng, người mua chỉ cần cầm lấy và chấm nước mắm giống như ăn gỏi cuốn vậy. Ốc luộc cũng khá ngon mà chỉ có 5.000 đồng/ tô.

2. Sáng sớm hôm sau, tôi ra bến đón xe đi Kontum, 75.000 đồng/vé. Lộ trình khoảng 4 tiếng. Tôi ở tại khách sạn Thịnh Quý 215 Phan Đình Phùng, giá 120.000 đồng/đêm, phòng hơi cũ nhưng rộng, có nước nóng nhưng ti vi không có cáp. Cũng may là khách sạn này cũng có xe đi Lào nên tôi đã đăng ký vé cho ngày hôm sau đi luôn. Vậy là tôi có một ngày đêm dạo phố Kontum.

Theo chân những người dân tộc đến khu hành hương của họ là Nhà thờ Gỗ ở thành phố Kontum thì tôi thấy những người dân tộc miền núi theo đạo Thiên Chúa khá đông. Họ ngồi chất đầy trên những chiếc xe buýt cũ kĩ hoặc lội bộ đến khu hành hương này. Hôm nay là ngày lễ đặc biệt của họ. Họ mang theo cả đồ ăn và chiếu ngủ. Họ ngồi khắp trong ngoài khuôn viên nhà thờ. Xung quanh hàng quán tấp nập. Quả là không khí của lễ hội.Tôi đi vào khuôn viên phía sau nhà thờ.

Ở đó có nhà trẻ Vinh Sơn 1, nơi nhận nuôi những đứa trẻ miền núi bị cha mẹ bỏ rơi hoặc quá nghèo không đủ tiền nuôi con nên gửi cho các sơ nuôi giùm. Nhân dịp lễ hội này, một số cha mẹ ghé vào thăm con. Ở đây có một du khách người Canada. Ông này đã về hưu nên mỗi năm đến Việt Nam 3 tháng để chăm sóc những đứa trẻ ở đây. Thật là một tâm hồn đẹp!

Nhìn thấy thái độ dịu dàng của ông khi bồng một đứa trẻ đang khóc ngất vì thiếu sữa và hơi ấm của mẹ mới thấy tình thương là không biên giới. Mấy đứa bé ở đây còn rất nhỏ, từ vài tháng đến 5-6 tuổi. Tôi đã ở đó nguyên buổi trưa bồng bế những đứa trẻ và trò chuyện với các sơ. Những đứa trẻ thật sự rất thiếu hơi ấm và rất hiếm khi được bồng bế.

Đa số những đoàn cứu trợ đến đây không đủ thời gian để chơi và bồng các em. Khi tôi bồng một bé trong tay, một bé khác giận hờn và tìm cách đẩy bé kia ra để ngồi vào lòng tôi. Thật tội nghiệp!

Những thành phố ở Nam Lào

Phong cảnh dân dã ở Lào

8 giờ 20, tôi ra xe đi Lào. Lái xe cũng là chủ xe và chủ khách sạn. Ông này trước đây là bộ đội. Hiện có doanh nghiệp tại Lào nên qua lại thường xuyên. Hôm đó chỉ có tôi là hành khách duy nhất. Chúng tôi đi trên chiếc Furtuna 7 chỗ của ông cùng với một nhân công qua đó làm việc. Ông biết tiếng Lào nên tôi cũng học lõm bõm được vài câu.

Cửa khẩu Bờ Y khá bụi. Rõ ràng đây không phải cửa khẩu du lịch. Có rất nhiều xe container chở hàng qua lại Việt Nam và Lào. Không hiểu sao hải quan Việt Nam ở đây khá "chảnh", trong khi hải quan Lào lại rất dễ thương.

Qua phía Lào, đường tráng nhựa khá đẹp chạy quanh co theo dãy Trường Sơn Tây. Nghe chủ xe bảo con đường này do Việt Nam xây dựng cho Lào nhằm hướng dẫn cho dân Lào kỹ thuật xây đường lẫn vá đường và đến bây giờ thì dân Lào vá đường còn giỏi hơn Việt Nam.

1. Khoảng 14 giờ, chúng tôi đến Attapeu - một tỉnh cực Nam của Lào. Chủ xe giới thiệu cho tôi nhà trọ mà theo ông là sạch sẽ và giá cả phải chăng. Đó là nhà trọ Aloonsotsai, giá phòng rẻ nhất là 50.000 kip. Chủ nhà trọ là một bác sĩ người Lào đã từng học ở Hà Nội và ở Việt Nam 8 năm nên có thể nói tiếng Việt khá sõi.

Thị trấn này khá buồn, không có nightlife (cuộc sống về đêm). Ở đây, tôi gặp một vài người đang làm việc cho chi nhánh của công ty Hoàng Anh Gia Lai tại Lào. Năm 2008, Attapeu đã chịu một trận lũ đầu tiên trong lịch sử. Có lẽ là hậu quả của nạn phá rừng chăng?

Tối hôm đó, tôi đi uống cà phê cùng với một anh tên Trung, nhân viên của Hoàng Anh Gia Lai, tại một quán cà phê do người Việt Nam làm chủ. Ở đây, tôi được giới thiệu uống sữa đậu nành Thái Lan khá ngon nhưng hơi ngọt, giá 5.000 kip/hộp.

2. Sáng hôm sau tôi ra bến xe mua vé để đi Pakse, giá vé 40.000 kip. Khoảng cách từ Attapeu đến Pakse là 225 km. Xe chạy khá chậm và dừng lại đón khách ở 2 bến Sekong và Paksan.

Ở Nam Lào, có khá nhiều đất bỏ hoang và cuộc sống còn đậm chất nông nghiệp.Xe khởi hành lúc 7 giờ 45 sáng và đến nơi vào lúc 13 giờ, hơn 5 tiếng cho đoạn đường 225 km.Tại Pakse, tôi ở tại Sabbaidii 2 (Sabbadii trong tiếng Lào nghĩa là Hello, chào), giá 40.000 kip/phòng.

Tôi ăn tối ở nhà hàng Xuân Mai. Ở đây người Việt Nam sang mở doanh nghiệp khá nhiều. Chủ nhà hàng là người Lào gốc Việt có thể nói được tiếng Lào, Việt Nam, Anh và Pháp.

Ở tại nhà nghỉ Sabbaidii 2, tôi quen với một cặp vợ chồng người Pháp. Người vợ là nông dân, chuyên chăm sóc trang trại cho người khác khi họ đi vắng. Người chồng làm thợ xây, chuyên phục hồi nhà cổ. Người vợ nói tiếng Anh bập bõm với tôi, còn người chồng hoàn toàn không biết tiếng Anh. Khi nghe họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp, kiến thức tiếng Pháp của tôi dần dần được khôi phục.

Họ thấy rất vui khi ở Lào và dự kiến ở luôn 3 tháng. Qua họ, tôi biết rằng bởi vì Đông Dương trước đây là thuộc địa của Pháp nên khi người Pháp đến đây họ có cảm giác như về nhà.

Tôi ở Pakse 2 đêm thì đón xe đi Savannakhet, giá vé 35.000 kip, xe chạy lúc 10 giờ30 đến khoảng 15 giờ chiều thì đến, khoảng cách là 200 km. Xe tuk tuk từ nhà nghỉ Sabbaidii 2 đến Northern Bus Terminal là 15.000 kip, khoảng 5-6 cây.

Đi bụi có cái thú là được ngắm cảnh ở những nơi không phải là di tích hay địa điểm du lịch.

3. Tại Savannakhet, tôi ở trong nhà nghỉ Sayamungkhun, phòng có giá 40.000 kip khá rộng và nhà tắm thì khá sạch sẽ. Tòa nhà có kiến trúc Pháp dù hơi cũ kỹ. Những nhà nghỉ xung quanh có giá mắc hơn, một phòng giá khoảng 50.000 -80.000 kip.

Ở đây có một công ty Việt Nam chuyên có xe đi tuyến Việt - Lào. Nhiều ngân hàng ở Lào, ngoại trừ ngân hàng Việt-Lào, không đổi tiền Việt. Ở đây có khá nhiều người Việt. Chủ yếu họ là những người có ba mẹ Việt Nam và được sinh ra ở Lào nên nói được cả tiếng Việt và tiếng Lào.

Dọc theo trục đường chính có khá nhiều nhà hàng do người Việt làm chủ. Tôi ăn cơm vịt cho buổi cơm chiều, cũng khá ngon và sạch sẽ.

Hôm sau, tôi thuê xe đạp (10.000 kip/ngày) đi tham quan Savannakhet. Buổi chiều trên con đường dọc theo sông Mê Kông có nhiều quán lẩu, người ăn ngồi theo kiểu Nhật, trông rất đẹp và khá hay nhưng tôi chưa ăn thử bởi vì sợ một mình ăn không hết một cái lẩu (đi bụi một mình bất tiện như thế ấy).

Người dân ở đây xuống sông bắt cá lên bán cho các hàng quán. Ở đây cũng có món cá nướng ăn với cơm và rau sống. Có vài bạn trẻ Việt Nam qua đây làm nail, đến mời tôi nhưng tôi từ chối. Họ đứng nhìn tôi ăn cá chép nướng và nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt (dĩ nhiên họ không nghĩ tôi là người Việt rồi): "Trông “nó” ăn ngon lành chưa kìa".

Ở đây một con cá chép nướng cho một người ăn giá 18.000 kip + 5.000 kip tiền cơm. Ăn cũng được nhưng so với giá cả ở Việt Nam thì mắc hơn. Chắc do tôi là khách du lịch.

Nghĩ đến đoạn đường dài thăm thẳm đến Vientiane, thủ đô của Lào mà tôi thấy ngán ngẩm. Vì thế thay vì đi Thae Khaet, tôi đón xe đi Mudkahan, một thành phố của Thái Lan giáp biên giới với Savannakhet của Lào, giá vé chỉ có 13.000 kip. Tôi định dùng giao thông của Thái Lan mà đi dần lên Vientiane.

>> Kỳ 1: Tìm đường sang Lào

Quá cảnh qua Thái

Xe khởi hành lúc 9h40 sáng. Khi đến cửa khẩu Lào thì làm thủ tục xuất mất 10.000 kip, sau đó mất thêm 200 baht làm thủ tục nhập ở cửa khẩu Thái Lan. Tôi không hiểu sao tại cửa khẩu này lại phải trả nhiều tiền như vậy, trong khi các cửa khẩu của Thái Lan lại miễn phí?

Phải chăng do cây cầu Thai-Lao Friendship, nhiều người đi xem quá nên phải đóng tiền hao mòn? Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau là xe đến Thái Lan. Kế bên bến xe là một siêu thị rất lớn. Người Lào sang đây mua sắm rất nhiều. À, có thể đây là nguyên nhân cửa khẩu này thu tiền rất cao và cũng là nguyên nhân ở Lào không hề có nơi mua sắm nào đủ lớn và hiện đại để được gọi là siêu thị. Tôi đi xe tuk tuk đến khu chợ Indochina. Đang đứng lóng ngóng vì không biết ở đâu cho rẻ thì một ông người Thái, khoảng 35 tuổi, mập mạp bụng phệ (đặc điểm chung của nhiều người Thái bây giờ) giới thiệu tôi khách sạn Huanum, 150 baht/phòng. Tôi gật đầu luôn.

Thành phố này cũng nhỏ nên đi đến các khu chợ đều gần. Ở chợ Indochina có bán hàng hóa Việt Nam. Ô phía kia có người đang bán ổi không hạt, giá tương đương 25.000 đồng/kg, thấy rẻ hơn giá bán ở Việt Nam và lại trông khá ngon mắt, tôi mua luôn một kg.

Ăn xong một kg ổi, no bụng luôn làm tối hôm đó được ông người Thái (người giới thiệu khách sạn này) dẫn đi chợ đêm, có bán khá nhiều đồ ăn ngon, nhưng không thể ăn nổi nữa nên thấy tiếc ghê.

Hôm đó ở đây tổ chức hội chợ. Trong hội chợ có nhiều trò chơi như phóng phi tiêu làm bể bong bóng, thảy vòng, vớt cá, bắn súng... Có rất nhiều gian hàng bán quần áo, giầy dép, có cả gian hàng trưng bày xe máy. Ngoài ra, phía dưới sân khấu ca nhạc là cả một cái sân rộng để người dân có thể nhảy theo ca sĩ. Dân Thái rất thích khiêu vũ và họ nhảy khá đẹp. Có cả quay lô tô, mỗi vé là 40 baht, giải nhất là một pick-up truck của hãng Honda. Ngoài ra còn có rất nhiều trò chơi cho trẻ em. Nói chung hội chợ ở đây tương tự như các hội chợ ở Việt Nam nhưng quy mô lớn hơn nhiều.

Ham chơi nên đến gần 12h đêm tôi mới về khách sạn. Con đường cạnh sông Mê Kông khá trong lành và yên tĩnh.

Sáng hôm sau, chợ Indochina chưa dọn hàng, nên tôi phải qua một con phố khác ăn sáng. Ở đây một món giá từ 30-35 baht. Tôi thuê xe tuk tuk 50 baht đến siêu thị cạnh bến xe trung tâm. Siêu thị này giống như Metro ở Sài Gòn, bán cả sỉ và lẻ. Tôi mua thử một hộp thức ăn được ghi là Fried Chinese Sausage. Khi ăn mới biết đó là lạp xưởng, toàn là dầu mỡ không, ngán muốn chết.

Ở đây tiền đô Mỹ đổi ở ngân hàng Bangkok Bank có tỷ giá khá thấp 33,01; trong khi ở bên ngoài đổi đến 35.Tối nay, tôi lại ra chợ đêm chơi. Hôm nay ở đây có tổ chức thi hoa hậu trong trang phục truyền thống (có thể là hoa hậu cho khu vực này).

Đông Bắc Thái Lan

Sáng hôm sau, tôi đón xe đi That Phanom. Từ Mudkahan đến That Phanom khoảng 1 tiếng đồng hồ, giá vé xe buýt là 35 bath.

Tôi định ở That Phatnom một đêm nhưng xui cho tôi, hôm đó là ngày mọi người đi chùa, đi lễ hội rất đông. Giá khách sạn ở đây rất mắc 400 baht/đêm nhưng rất đẹp vì các khách sạn nằm dọc theo bờ sông Mê kông mát rượi và nên thơ. Ở khách sạn Chivon nằm thụt ra sau các khách sạn này có phòng giá 100 baht/đêm nhưng nhìn không sạch sẽ lắm. Tôi được một người Thái khuyên là không nên ở đây vào thời điểm này bởi vì mọi thứ đều mắc theo mùa lễ hội.

Vẫn còn sớm nên tôi dự định dạo một vòng lễ hội trước khi lên xe buýt đi đến một thành phố khác. Không muốn đeo ba lô trên vai chen chúc vào những nơi này, tôi tìm đến chỗ ban trật tự lễ hội và gửi đồ. Thấy tôi là người nước ngoài, dù không nói được nhiều tiếng Anh, họ cũng vui lòng giữ giùm miễn phí và còn tặng cho một tấm bản đồ. Tôi đi một vòng quanh khu lễ hội. Đúng là một quốc gia Phật giáo. Người dân đi chùa rất đông. Tôi mua một ít quần áo Thái Lan vì nghe nói thành phố này rất gần khu làng dệt lụa của Thái Lan. Nghĩ chắc mua ở đây giá cả rẻ hơn. Nhưng thật ra tôi đã nhầm. Kinh nghiệm rút ra là chớ nên mua đồ ở các nơi lễ hội.

Đã trưa nên tôi đến lấy ba lô để đón xe đi Nakhon Phatnom. Thấy một ông cảnh sát đang đứng ở cổng ra vào, tôi chạy đến hỏi thăm đường ra bến xe. Ông này không biết nói tiếng Anh, chỉ hỏi tôi người nước nào. Tôi nói Việt Nam. Ông ta chạy vào lấy xe máy ra và ra dấu bảo tôi leo lên. Nghĩ thầm trong bụng chắc ông ta chở mình đến bến xe đây. Vậy là khỏi tốn tiền thuê xe tuk tuk. Cảnh sát Thái Lan dễ thương quá. Nhưng tôi đã nhầm. Ông ta chở tôi đến một cửa hàng do người Việt làm chủ. Đối diện cửa hàng này là trạm đón xe. Ổng giao tôi lại cho ông chủ người Việt để hướng dẫn.

Ông chủ này chắc khoảng 40 tuổi, bận túi bụi với công việc mua bán (cửa hàng này có vẻ làm ăn được đây) nhưng vẫn không quên bảo tôi ngồi chờ ở trạm khi nào có xe đi Nakhon Phatnom thì ra dấu cho tôi lên xe. Ở Thái Lan, xe chỉ ghi toàn tiếng Thái nên người nước ngoài không biết đường nào mà lần. Thế là ông chủ vừa bán hàng vừa trông đón xe cho tôi.

Cuối cùng xe đi Nakhon Phatnom cũng đến, một chiếc xe buýt 2 tầng, giá vé là 45baht cho một tiếng đồng hồ trên xe. Khi đến Nakhon Phatnom, tôi hỏi thăm đường đến các khu nhà trọ rẻ tiền thì được chỉ vào khu người Việt. Lúc đó, ở khu này đang có đám ma, ngoài cửa ghi tiếng Việt. Nhìn thấy tiếng Việt tôi mừng quá vào hỏi thăm luôn. Phòng ở đây chủ yếu cho thuê theo tháng cho công nhân Việt Nam qua ở làm việc.

So với mức sống của người Thái, tôi thấy lao động Việt Nam đáng thương quá. Khu ở của họ thực sự là khu ổ chuột của Thái Lan. Nhưng những người Việt được sinh ra ở Thái Lan thì có mức sống khá hơn rất nhiều. Họ học hành tử tế và làm những nghề có thu nhập cao, nhưng đổi lại họ không nói rành tiếng Việt, thậm chí con cháu đến đời thứ 3 là không nói được tiếng Việt luôn. Tôi ở đây một đêm, giá 60baht.

Ở đây cũng có khu chợ Indochina và chợ đêm nhưng không nhộn nhịp đông đúc như ở Mudkahan và That Phanom. Có lẽ chùa chiền ở đây không nổi tiếng lắm.Thái Lan biết cách khai thác bờ sông Mê Kông hiệu quả hơn Lào. Thường họ xây công viên dọc theo bờ sông để dân chúng và khách du lịch có thể ra ngắm cảnh và thư giãn.

Tối hôm đó, tôi ra công viên bờ sông đi dạo. Bên kia sông là phía Lào. Ánh đèn sáng loáng và tiếng nhạc xập xình vọng sang. Tôi nghĩ: "Ah, thì ra dân Lào biết cách "ăn chơi" hơn người Thái nhiều". Vài bạn trẻ Thái Lan đem máy ra chụp mặt sông ban đêm.

Tìm đường về Vientiane

Ở đây, ngay tại ngã tư chính sừng sững một tượng đài kỷ niệm do Việt kiều xây dựng để tưởng nhớ quê hương (tối hôm trước biết tôi là người Việt, một số Việt kiều lớn tuổi, sau khi đi đám ma xong, kêu tôi vào hỏi chuyện về Việt Nam và họ không tin một người Việt lại dám đi du lịch bụi một mình). Khi vào chợ ăn sáng, tôi được bà chủ hàng - một người Thái gốc Việt - tìm giúp xe tuk tuk để đi thăm nhà Bác Hồ ở làng hữu nghị Việt - Thái.

Đây là nơi Bác Hồ ở và làm việc trước năm 1930 và nay rất nhiều người Lào và Thái gốc Việt đến tham quan. Ở đây có bán cả đĩa nhạc, quần áo và nhiều sản phẩm khác của Việt Nam. Hiện giờ số lượng người Việt sống tại khu làng này còn rất ít, họ bỏ ra ngoài để đi làm ăn, những người ở lại là người già hoặc làm bên du lịch.

Trưa hôm đó, từ khu làng Việt - Thái trở về, tôi quyết định đi Nong Khai ngay và từ Nong Khai tôi có thể đi Vientiane. Mang ba lô lên vai, tôi đi ngay và hầu như không kịp chào hỏi ai trong khu làng Việt kiều. Nhưng khi ra bến xe thì tôi mới biết không có xe đi Nong Khai vào buổi trưa.

Tôi đón xe đi Udon Thani, một trong những thành phố nhộn nhịp của Thái Lan. Xe chạy khoảng 5 tiếng thì đến Udon. Đến đây tôi có cảm giác như mình đang ở Singapore bởi không khí sôi động, khu chợ đêm sáng rực đèn và khu trung tâm thương mại sầm uất. Tất cả nằm ngay sát bến xe khách. Tôi quyết định tìm khách sạn ở gần đây để sáng hôm sau đi cho tiện.

Học sinh trên đường phố của Lào.

Quả là một quyết định đúng đắn. Số lượng người đi rất đông nên tôi phải ra sớm để mua vé. Xe khởi hành mỗi tiếng một chuyến từ 11h sáng đến 7h tối. Xe đông đến nỗi nhiều người phải đứng, dọc đường một số người xuống bớt nên mới có chỗ ngồi. Xe đến Nong Khai khoảng 3h30 chiều, tôi đón xe tuk tuk (20 baht) đến Sawabi Guesthouse do một người Thái gốc Hoa làm chủ. Nơi này đẹp, sạch sẽ, tương tự như nhà nghỉ ở Melecca, Malaysia mà tôi từng ở. Giá phòng ở đây rẻ nhất là 140 baht.

Giặt giũ, tắm rửa xong, tôi đi dạo phố. Thành phố này khá dễ chịu, sạch sẽ, trong lành, êm đềm và nhộn nhịp. Cái êm đềm của một thành phố cổ và cái nhộn nhịp của một thành phố hiện đại đều có thể được tìm thấy ở nơi đây. Thật là một nơi lý tưởng để ở. Ở đây có Hội Người Việt và nhiều người Thái cũng có thể nói tiếng Việt. Buổi sáng hôm sau, tôi ra chợ Morning ăn phở Thái (tiếng Thái gọi là "khuây tịu"). Phở này giống hủ tíu Việt Nam hơn, giá 25 baht/tô.

Buổi trưa, tôi trả phòng, sau đó đón xe buýt (giá vé 55 baht) để đi Vientiane. Ở cửa khẩu này, thủ tục hải quan miễn phí. Tôi lại trở qua Lào sau 6 ngày 5 đêm "lưu lạc" trên đất Thái Lan. Phải nói tôi rất thích vùng Đông Bắc Thái. Ở đây mọi thứ đều khác hẳn Bangkok. Tiếng nói nghe dễ chịu hơn, thức ăn ngon hơn, người dân thân thiện và dễ thương hơn nhiều.

Vientiane

Một món ăn của Lào.

Cách bến xe Vientiane khoảng 1 km đi về phía bờ sông có khá nhiều nhà nghỉ giá rẻ. Các bạn có thể gọi xe tuk tuk bảo họ đưa đến Mixay Guesthouse. Nhớ trả giá bởi vì ở đây nói thách lắm. Tôi đã trả hớ 20.000 kip cho 1 km. Lần sau sẽ rút kinh nghiệm trả giá thấp hơn.

Nhà nghỉ Mixay hết phòng trống nên tôi đã đến nhà nghỉ Sabaidy (cách Mixay 3 phút đi bộ), dorm bed giá 20.000 kip/đêm, quá rẻ nhưng cả nguyên tầng lầu chỉ có 1 phòng tắm thôi và cũng không sạch lắm. Ở đây tôi kết bạn với cô sinh viên người Úc. Chúng tôi cùng chia sẻ tiền tuk tuk đi Luang Stupa. Ở đây chúng tôi làm quen với một anh người Lào. Vì vậy chúng tôi cùng nhau đi ăn tối ở dãy quán dọc sông Mê Kông. Chúng tôi ăn lạp gà và lẩu Lào cũng khá ngon. Ba người ăn mà chỉ có 90.000 kip (tương đương 230.000 đồng).

Qua anh chàng người Lào này, tôi được biết một điều khá thú vị là các bạn trẻ Lào rất thích đi du học ở Việt Nam. Anh ta bảo đấy là mơ ước của anh ấy và anh ấy sẽ cố gắng để được đi du học Việt Nam. Chính phủ Lào rất tôn trọng bằng cấp Việt Nam. Một người có bằng do Việt Nam cấp sẽ có cơ hội việc làm nhiều hơn bằng cấp ở những nơi khác cấp kể cả của Lào. Lạ quá nhỉ!

Ở dọc theo bờ sông có khu chợ đêm bán đồ khá đẹp và khá rẻ (nếu biết trả giá). Tôi mua một cái ví thêu tay rất đẹp, giá 25.000 kip (lúc đầu họ thách đến 40.000 kip).

Sáng hôm sau, kiểm tra lại tình hình tài chính cho 10 ngày đi bụi vừa qua, tôi thấy mình đã tiêu mất khoảng 5 triệu đồng, bao gồm tất tần tật mọi thứ. Như thế cũng chưa rẻ lắm bởi vì tiêu chí tôi đưa ra là 1.000 đô la Mỹ cho 3 tháng. Tôi phải thừa nhận rằng chi phí ở Lào mắc hơn ở Thái Lan và Campuchia. Cũng có thể tôi đi Lào lần đầu nên chưa có kinh nghiệm chăng?

Kiểm tra tài chính xong, tôi ra ngoài tiệm Internet để kiểm tra email. Ở đây khi hỏi đường đi đến bến xe buýt thì tôi được cô nhân viên quản lý phòng net, hết giờ làm việc, tiện đường về nên chở tôi ra bến xe luôn thể. Thế là đỡ tốn tiền đi xe tuk tuk.

Mấy tay lái xe tuk tuk và cô nhân viên phòng net khẳng định với tôi rằng ở bến xe này không có xe đi Xiêng Khoảng (Buddha Park - Cánh đồng tượng Phật cổ ở ngoại ô Vientiane). Tôi đi thử vào trong bến xe hỏi thì hóa ra có xe buýt đi đến đó, giá rất rẻ, chỉ có 5.000 kip, so với thuê 1 chiếc tuk tuk khoảng 100.000 kip. Xe buýt chạy 45 phút thì dừng ở Tha Dieu để thả khách, sau đó thì chạy tiếp đến Buddha Park. Ở đây vé vào cổng là 5.000 kip. Khung cảnh khá đẹp và nếu không bị quấy rối bởi những du khách khác thì các bạn có thể thì thầm trò chuyện cùng với các pho tượng Phật lâu đời đứng sừng sững giữa cánh đồng mấy trăm năm nay. Có ai tin không nhỉ?

Cảnh sông nước ở Lào.

Từ cổng Bubbha Park, tôi băng qua đường đón xe buýt về Vientiane. Tối đó, tôi đi ra bờ sông để ăn salad Lào. Dặn đi dặn lại người bán là không cay vậy mà cuối cùng sau khi ăn thử vài miếng, nước mắt nước mũi dầm dề, tôi bỏ luôn nguyên đĩa gỏi. Không hiểu sao người Lào ăn cay quá? Nhưng bù lại, coconut shake ở đây khá ngon mà chỉ có 7,000 kip.

Ăn xong, tôi đi dạo một vòng và thu về "chiến lợi phẩm" là một cái túi xách khá đẹp mà sau một hồi trả giá thì còn 25.000 kip.

À quên , phở Lào ăn cũng khá ngon (ngon hơn phở Thái), giá 10.000 kip/tô. Rau sống và nước chấm hơi khác với phở Việt. Đặc biệt ở đây người ta ăn phở, chấm rau sống với mắm, khá ngon.

áng hôm sau tôi mua vé xe (45.000 kip) để đi Vang Vieng, giá vé bao gồm cả xe đến đón tại khách sạn. Dân Lào rất đậm đà phong cách nông dân nên họ hẹn tôi 9h sáng có xe đến đón. Thực ra 10h, xe mới đến. Chắc họ sợ tôi sử dụng "giờ dây thun" nên nói trước 1 tiếng chăng? 10h lên xe ngỡ rằng mình sẽ được đi thẳng đến bến xe luôn nhưng không phải như vậy, xe còn chạy thêm 1 vòng đón khách ở những khách sạn khác.

>>Kỳ 3: Tìm đường về Vientiane

Cuối cùng khi người và hành lý đã đầy nhóc trong xe thì họ mới chịu chở chúng tôi ra xe đi Vang Viêng. Ngồi cạnh bên tôi là hai vợ chồng người Úc (Sima và Tony) và cậu con trai 17 tuổi tên Aeran. Nhờ thời gian rỗi nên chúng tôi bắt chuyện và làm quen nhau.

Vang Vieng

Khi ra được xe đi Vang Vieng thì chúng tôi phải chờ những người khách trên những chiếc xe trung chuyển khác và họ cũng bảo rằng không biết chờ đến khi nào bởi vì đủ khách thì xe mới chạy.

Lúc đó thì có một chiếc minibus chạy đến "dụ dỗ" chúng tôi qua xe đó, nhỏ hơn, đi ngay mà không phải trả thêm tiền vé. Gia đình người Úc, tôi và vài người nữa thế là "bị dụ". Té ra chiếc xe này do nhỏ hơn nên đã chạy chậm hơn chiếc xe buýt ban đầu của chúng tôi mặc dù khởi hành trước.

May là buổi sáng tôi có mua một hộp bánh AFC của Việt Nam và một chai sữa mang theo để ăn trưa. Buổi trưa xe có dừng ở một cửa hàng nhỏ cho hành khách vào ăn trưa. Nhưng lúc đó cả 3 chiếc xe khách đỗ cùng một quán, khách phải xếp hàng để chờ mua bánh mì. Ngán ngẩm tôi lấy sữa ra uống luôn, no bụng, đỡ tốn tiền.

Đường đi Vang Vieng khá quanh co. Cũng may tôi ngồi cạnh gia đình người Úc nên nói chuyện với họ cũng đỡ buồn. Khoảng 3h chiều xe đến nơi. Bến đỗ là khách sạn Malany trên đường Khaosan (các bạn thấy lạ chưa? Bến đỗ của xe lại nằm trong khuôn viên khách sạn? Mà lại có đường Khaosan, giống như ở Bangkok vậy). Nhiều người khách không thích ở đây bởi vì giống như "bị ép" nên họ gọi xe ôm chở qua chỗ khác. Gia đình người Úc vào hỏi giá phòng và ra hỏi ý tôi có muốn share với họ không. Họ định lấy 2 phòng đôi. Tôi và Sima ở chung một phòng. Tony và Aeran ở phòng kia. Giá phòng là 70.000 kip. Chúng tôi chia đôi, mỗi người trả 35.000 kip. Thấy cũng không tệ nên tôi đồng ý luôn. Ngoài ra, khách sạn này có phong cảnh khá đẹp. Đứng ở ban công nhìn thấy cả núi lẫn sông, rất thơ mộng.

Sau khi mang đồ đạc lên phòng, chúng tôi đi đến một công ty du lịch lấy tour one-day trip, giá 90.000 kip cho mỗi người. Lên chương trình cho ngày mai xong, chúng tôi đi dạo phố. Ngộ ghê, ở đây có rất nhiều du khách mặc bikini đi lại trên phố giống như ở bãi biển vậy. Hỏi ra mới biết là tubing nghĩa là mặc đồ tắm nằm trên bè trôi trên sông, dọc đường có những quán bar bán rượu bia ngay; vì thế sau khi tubing, ai cũng nạp kha khá rượu bia vào người nên "quậy" luôn. Đa số du khách trẻ đến đây rất mê hoạt động này. Họ có thể "quậy líp ba ga", mặc luôn cả bikini đi lại trên phố cũng không sao. Tôi trông chờ cho đến sáng mai để tubing.

Trở về khách sạn, tôi ngủ một giấc thật ngon cho đến sáng, khi mở mắt ra thấy không khí mát lạnh và tiếng lách tách ngoài cửa sổ. Ôi trời mưa hầu như cả đêm. Vậy là ông trời không muốn tôi "quậy líp ba ga" rồi. Mưa tầm tã và khi ấy ở ban công khách sạn nhìn ra xa, phong cảnh đẹp vô cùng.

Đến hơn 8h sáng trời vẫn mưa tầm tã. Thấy trời không có dấu hiệu tạnh nên Sima mặc áo mưa đi ra công ty du lịch hủy chiến đi và lấy lại tiền cho chúng tôi. Chúng tôi mặc áo mưa đi ăn sáng. Sau đó gia đình này đi massage Lào, còn tôi đi bộ ra chợ xem và đi dạo ở một con đường bên hông chợ.

Con đường này dẫn đến núi nên phong cảnh rất đẹp nhưng vắng vẻ quá nên tôi không dám đi xa. Từ chợ quay về tôi thấy có một thông báo bằng tiếng Anh dán trước cổng một ngôi chùa cũng khá lớn. Thông báo kêu gọi khách du lịch đến dạy tiếng Anh cho các nhà sư ở đây từ 6-8h tối, chùa này chỉ cách khách sạn của chúng tôi khoảng 300m. Tôi vội vã quay về khách sạn định rủ gia đình Úc này tham gia nhưng họ vẫn chưa về. Tôi đi bộ dọc xuống bờ sông và thấy nhiều người mặc đồ tắm ướt sũng đang từ dưới bến sông đi lên. Thì ra dù trời mưa nhưng du khách vẫn không muốn bỏ qua tubing vì Vang Vieng rất nổi tiếng với hoạt động này mà. Thấy cũng tiếc vì đã không tham gia nhưng khi nhìn kỹ lại người của họ toàn bùn đất do con đường cạnh bến sông khi trời mưa đất nhão ra trơn trợt nên họ "chụp ếch" liên tục.

Trời lại mưa nên tôi chạy vội vào một nhà hàng gần đấy, thấy trong thực đơn có món sweet rice. Tôi gọi ăn thử, cũng ngon, nhưng hơi ngọt mà tôi lại không hảo ngọt lắm.

Gia đình người Úc mà tôi gặp ở Lào

Lề đường phố ở Lào về đêm.

Trên chuyến xe từ Vientiane đến Vang Vieng tôi đã gặp gia đình này. Họ gồm có 3 người. Người vợ khoảng 58 tuổi, tên là Sima, người Israel nhưng định cư ở Úc. Hiện Sima đang dạy tiếng Do Thái cho một trường tiểu học ở Úc. Người chồng tên là Tony, khoảng 65 tuổi, người Úc, là nhà đầu tư tài chính. Trước năm 2008, ông là triệu phú. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế ông rớt luôn ngôi "triệu phú." Cậu con trai của họ tên Aeran, 17 tuổi, học sinh trung học, rất đẹp trai, một nét đẹp lai của Do Thái.

Họ rất cưng chiều cậu bé bởi vì họ có con muộn và chỉ có một người con duy nhất. Họ gắn kết nhau bởi cậu con trai chung chứ thật sự thì nhà ai nấy ở, tiền ai nấy xài, mạnh ai nấy sống và hai người chưa bao giờ kết hôn mà cũng không có ý định kết hôn.

Gia đình này mỗi năm chỉ đi du lịch chung với nhau một lần. Những lần khác chỉ có Tony và Aeran đi chung với nhau. Mỗi năm khi nghỉ Giáng sinh, Sima dẫn Aeran về quê ngoại là Israel để cho cậu bé không bị mất gốc Do Thái. Sau đó, họ hẹn gặp Tony ở Thái Lan và cùng đi chung trong 1 tháng.

Đi chung với họ trong 10 ngày nhưng tôi đã học hỏi rất nhiều từ gia đình này, đặc biệt là ông bố. Ông ấy quả là một tay mua bán "sừng sỏ". Cách ông ấy trả giá khi mua hàng thật đáng nể và ông hầu như luôn mua được món mình cần với giá tiền mình muốn.

Sima vừa cho tôi biết đầu năm tới (2011), lần đầu tiên họ sẽ không cùng nhau đi du lịch chung. Aeran đã lớn nên muốn tự đi du lịch ở Nhật một mình nhân tiện thực tập tiếng Nhật luôn, . Ở Úc, cậu bé học tiếng Nhật khá giỏi, Tony thì đi riêng. Sima dự định đi Lào một mình nên đã hỏi tôi có muốn đi chung với bà không?

Bà nói nếu tôi không thích Lào thì bà sẵn sàng đi chung đến nước mà tôi thích nếu không thì bà sẵn sàng qua Việt Nam bởi vì bà không thích đi du lịch một mình. Vậy đó, người nước ngoài luôn có chương trình du lịch của mình cho năm sau dù họ đang trong kỳ nghỉ năm nay, thật thán phục.

Sáng hôm nay trời có vẻ âm u nên Sima đòi đi Luang Prabang, trong khi đó thì Tony cứ nằng nặc đòi ở lại Vang Vieng để đi tubing. Thế là họ lại cãi nhau và đem tôi ra làm trọng tài, hỏi ý tôi muốn đi tiếp hay ở lại thêm một ngày.

>> Kỳ 4: Vang Vieng

Nghĩ trời âm u nếu tubing sẽ lạnh, không có gì thú vị nên tôi đòi đi Luang Prabang. Thế là mọi người ra mua vé xe giá 45.000 kip/vé. Tony vẫn có vẻ ấm ức lắm.

Đường đi khá quanh co, khúc khuỷu, xe chạy khoảng 7 tiếng là đến nơi. Chúng tôi đến Luang Prabang lúc 5h30 chiều. Từ bến xe đến khu trung tâm khoảng 3 cây số, chúng tôi thuê một chiếc tuk tuk cho 5 người đi (có cả ông bạn đồng hành người Đức - ông này có vẻ khá lạ - hành lý lỉnh kỉnh - không hiểu sao ổng lại không cho vào một cái ba lô lớn rồi vác đi cho tiện), mỗi người trả 5.000 kip.

Chúng tôi ở Goun Ghing Guesthouse (cạnh bên khách sạn sang trọng Mallay Villa), giá cho phòng twin (có hai giường đơn) hoặc phòng có giường đôi (double) là 60.000 kip, trông cũng khá sạch sẽ. Nhận phòng xong, mọi người cùng nhau ra chợ đêm ăn vegetarian buffet, khá rẻ chỉ có 7.000 – 8.000 kip/đĩa. Aeran chê nên không thèm ăn, tôi, Sima và Tony ngồi ăn ngon lành. Khu chợ đêm này là tâm điểm cho khách du lịch, chủ yếu ở đây bán lụa, quần áo, đồ lưu niệm. Tại đây cũng tập trung rất nhiều điểm đổi tiền, công ty du lịch, nhà hàng, tiệm truy cập net.

Sáng hôm sau chúng tôi ra Dara Market ăn sáng. Khu chợ này cũng chỉ bán quần áo và vải vóc. Sau đó, mọi người thuê xe tuk tuk đi thác Khuangsi, mỗi người trả 40.000 kip tiền xe đi đến chiều. Trên đường đi, xe dừng cho chúng tôi vào tham quan làng du lịch, nơi mà người dân vừa sản xuất vừa bán hàng luôn ngay trước cửa. Đặc biệt ở đây chủ yếu là tụi con nít bán hàng (chắc đưa con nít ra câu khách đây nhỉ?). Ở đây chủ yếu là hàng thủ công mỹ nghệ, nhưng bán giá cũng khá mắc. Sima đem theo xà phòng lấy từ các khách sạn trước đấy tặng cho người dân nơi đây. Bà cũng phát bánh bích quy cho tụi trẻ. Khi xe chạy rồi, tụi nhỏ vẫn chạy theo xin bánh (hình như kiểu phát bánh này không hay cho lắm).

Thác nước Khuangsi khá đẹp và yên tĩnh, không khí trong lành và mát mẻ. Ở đây có cả một khu bảo tồn động vật hoang dã. Đúng là một nơi dã ngoại lý tưởng. Khi đến đây mọi người nhớ mang theo áo tắm bởi vì thác nước cực kỳ quyết rũ, đặc biệt là trò đu dây rồi phóng xuống nước. Du khách rất ghiền trò này. Ở Luang Prabang, đi nơi nào cũng phải mua vé vào cửa, giá vé ở đây thường cố định 20.000 kip cho một lần vào cửa (không rẻ tí nào). Kể cả lên đồi ngắm mặt trời lặn phải mất 20.000 kip.

Dọc theo bờ sông có rất nhiều nhà hàng bán đồ ăn sáng, trưa, chiều. Đặc biệt ngồi đây ngắm mặt trời lặn thì cực đẹp. Hôm sau, chúng tôi đi Pak Ou Cave, giá thuê tàu là 60.000 kip/4 người. Trên đường đi, chúng tôi ghé lại một làng thủ công mỹ nghệ bên sông. Nói chung sản phẩm ở đây tương tự như ở ngôi làng mà chúng tôi ghé trên đường đi Khuangsi Waterfall.

Ở Pak Ou Cave, vé vào cổng lại là 20.000 kip. Hang động này gồm 2 phần Lower Cave và Upper Cave. Ở Lower Cave có rất nhiều tượng Phật từ cổ chí kim, bằng đủ mọi chất liệu, kích thước. Trên đường lên Upper Cave, vài trẻ em Lào vừa bán hàng lưu niệm vừa múa hát giúp vui cho du khách, trông cũng khá điêu luyện. Upper Cave khá tối, khi đi phải chuẩn bị đèn pin, nếu không thì phải thuê đèn pin ngay trước cửa động. Bên trong hầu như không có gì đặc biệt, chỉ có bóng tối.

Chùa chiền ở thành phố nhỏ cổ xưa Luang Prabang của Lào - Ảnh: Báo Giác Ngộ (www.giacngo.vn)

Từ Pak Ou Cave, chúng tôi vào một nhà hàng cạnh bờ sông ăn tối. Ở Vientiane, tôi ăn lạp gà nên bây giờ tôi thử món lạp vịt (20.000 kip), cũng tương tự nhỉ, sao tôi không thấy có gì khác biệt. Trên đường về khách sạn, chúng tôi gặp một đám cưới Lào. Tương tự như ở Việt Nam, khách ngồi ăn ở những cái bàn đặt ở ngoài sân, thùng tiền cưới thì đặt ở ngay lối vào. Cô dâu chú rể mặc đồ truyền thống Lào. Khách đi dự tiệc thì từng đôi ra phía sân khấu múa truyền thống, trông họ múa khá tự nhiên và cũng khá vui.

Chúng tôi dự định ở Luang Prabang thêm vài ngày nữa. Đây là một nơi ở Lào mà tôi ở lại lâu nhất, khoảng 1 tuần lễ. Sáng hôm sau chúng tôi ra chợ Dara thuê xe đạp, 20.000 kip/xe, phải thế chân passport của một người trong đoàn. Những người Úc không ai mang theo passport, thế là tôi phải đưa cái của mình ra.

Chúng tôi đạp xe dọc bờ sông Nam Kha, khung cảnh rất đẹp và người Lào cũng biết khai thác vẻ đẹp này. Nhiều quán cà phê lãng mạn được dựng lên. Chúng tôi tìm đến bến sông để mua vé tàu đi Pakbeng. Sau một hồi tìm kiếm thì chúng tôi cũng đến được bến tàu nằm ngay sau lưng Viện Bảo tàng Quốc gia (National Museum). Cuối cùng chúng tôi cũng mua được vé đi Pakbeng, 120.000 kip/vé, khởi hành lúc 8h30 sáng.

Sau khi mua vé, chúng tôi đạp xe đến Chinese Market xem thử. Ở đây chủ yếu bán đồ điện tử và quần áo giày dép, không hấp dẫn lắm. Tôi rủ mọi người đến Phousi Market, cách đó khoảng 80m để xem. Trên đường đi thì chúng tôi lạc mất Sima và Aeran (về sau tôi mới biết, xe đạp của Aeran bị hư, Sima phải dừng lại giúp, lúc đó tôi và Tony đang xuống dốc nên không nhận ra, thế là lạc luôn (ở Luang Prabang đường dốc cũng khá nhiều).

Chợ Phousi khá dơ, trông giống như một cái chợ truyền thống ở Việt Nam, chợ hơi tối, đường thì lầy và ruồi thì rất nhiều. Khi về, Tony mệt quá nên ghé vào một nhà hàng bên sông Mê Kông uống bia (ở Luang Prabang có 2 con sông: Mê Kông và Nam Kha). Tôi đi thẳng về nhà tắm rửa, trả xe và ghé chợ thưởng thức vegetarian buffet ở một gian hàng khác, giá 10.000 kip, dĩa to hơn, no quá!

Sáng hôm sau là một ngày tự do, ai muốn làm gì cũng được. Chúng tôi lấy trái cây ra ăn điểm tâm chung với nhau; tôi gọt chuối, xoài và đu đủ để lên dĩa, mọi người lấy nĩa gắp ăn, ai cũng có vẻ uể oải, vì vậy, ăn xong, tôi một mình đi dạo luôn. Thế nhưng vừa ra đến cổng, tôi gặp lại cặp vợ chồng người Pháp mà tôi gặp ở Pakse. Họ đang cùng một bác sĩ người Pháp trên đường đến trường học làm hề cho bọn trẻ Lào. Vị bác sĩ này có một chút khiếu. Thế là tôi nhập bọn với họ luôn.

Xong việc, họ rủ tôi đến khu nhà trọ của họ chơi. Ở đây phòng trọ mắc hơn, giá 80.000 kip nhưng có thể nấu ăn và giặt đồ. Khu này người Pháp ở rất đông. Có thể họ giới thiệu nhau đến ở. Ở đây có Perol và cô vợ Lào, hôm đó cô ấy làm món tom yam Lào khá cay.

Chiều hôm đó, tôi đi bơi cùng với họ ở hồ bơi do một phụ nữ Pháp quản lý, giá vé là 20.000 kip cho người nước ngoài và 10.000 kip cho người Lào, nhưng tôi chỉ trả có 10.000 kip thôi. Biết tôi là người nước ngoài nhưng vì tôi là dân châu Á nên trả tiền ít hơn.

Tối hôm đó, tôi lại ghé chợ ăn vegetarian food, chắc tôi ghiền món này luôn quá! Vừa rẻ vừa ngon, dại gì không ăn! Ở bên kia sông Nam Kha có làng làm lồng đèn giấy, giá rẻ hơn so với mua ở chợ, chỉ cần băng qua cầu, đi bộ khoảng 15 phút là tới làng. Ở đó, lồng đèn nhỏ giá 5.000 kip; lồng đèn lớn giá 10.000 kip. Cái này là tôi nghe cặp vợ chồng người Pháp nói lại.

(TBKTSG) - …Tôi đến Luang Prabang lúc 5 giờ chiều, sau đúng 10 tiếng đi xe đò từ Phonsavanh. Đây là cố đô của Lào và toàn bộ thành phố đã được công nhận là di sản thế giới. Thành phố được bao bọc bởi sông Mekong hùng vĩ và một chi lưu của Mekong, sông Nam Khan. Nhà khách nơi tôi trú ngụ nhìn ra dòng Nam Khan trôi êm đềm, bên kia bờ là miền quê an bình lác đác hàng dừa xen lẫn cây thốt nốt cao cao.

Cách bờ sông Mekong một con đường là phố Sisavangvong dài và hẹp với chợ đêm (night market) nổi tiếng. Nó giống như phố Tây ở Đề Thám, Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn, nhưng đa dạng, trật tự hơn và chỉ dành cho người đi bộ. Người Lào thật ngăn nắp và sạch sẽ.

Từ đầu phố đến cuối phố không một cọng rác. Đầu phố Sisavangvong là khu ẩm thực sang trọng với những nhà hàng có kiến trúc thời thuộc địa, bán một món ăn vài chục đô, nhưng hấp dẫn mấy ông Tây bà Đầm phong lưu luống tuổi. Họ ăn uống chậm rãi, nói năng từ tốn. Trên cái bàn trải khăn trắng toát là những chai rượu vang nhập khẩu đắt tiền.

Giữa phố là khu ăn uống trung bình bán pizza, hamburger, kwei-tiu (hủ tiếu) Thái với khách Tây ba lô ồn ào, phì phèo thuốc lá. Cuối phố là những hàng quán trên đường bày bán vải vóc làm sarong màu sắc sặc sỡ, những món đồ lưu niệm Lào nhưng có dáng dấp “made in China”.

Tôi thấy một con voi làm bằng đồng đen nho nhỏ xinh xinh, hỏi bao nhiêu. Chị bán hàng nhanh nhảu ra giá “One hundred”, tôi hỏi lại “Kíp?”, “No, no, dollar”, chị ta nói tiếp “very old”, ý muốn nói đồ cổ. Những món đồ đồng giả cổ, mà bọn trẻ con ở Angkor Wat chạy theo du khách nài nỉ bán năm, mười đô la bây giờ là 100 đô la tại quán hàng rong Luang Prabang. Ai bảo người Lào hiền lành!

Rẽ vào một con đường nhỏ là một “xóm nhà lá” bán đủ loại thức ăn bình dân Lào, kể cả món hột vịt lộn Việt Nam. Đang đi, bỗng nhiên tôi ngửi được mùi mực nướng. Tôi rảo bước, nhìn dáo dác tìm kiếm cho ra cái nguồn thơm tho này. Từ đàng xa, một thiếu phụ gầy gầy quạt phành phạch trên cái lò than nhỏ, tỏa mùi thơm khắp muôn phương. Cái kiểu bán mực nướng này đúng là “truyền thống” của ta. Tôi đi tới dùng tiếng Việt hỏi cầu may “Bao nhiêu tiền đấy chị?”, không ngờ người bán cũng trả lời tiếng Việt đặc sệt giọng miền Trung, “3.000 kíp 3 con”. Tôi mua 3 con, vừa nhai mực vừa hỏi chuyện “Chị sang lâu mau rồi? Sao không ở Việt Nam, sang bên ni làm chi cực khổ quá?”, “Em sang hồi năm ngoái. Không, bên ni làm ăn dễ, dân Lào hiền lành. Ở Việt Nam cực quá, bon chen quá, phải đi thôi”...

Một căn nhà cổ ở Luang Prabang. Ảnh: Trương Văn Tân.
Ba giờ sáng tôi giật mình thức giấc. Những tiếng nói phát ra từ cái máy phóng thanh nghe từ xa, có lẽ từ bên kia con sông Nam Khan, lúc văng vẳng lúc lồng lộng trong màn đêm. Nửa tỉnh nửa mơ, tôi cứ ngỡ là phòng thông tin thành phố đang tuyên truyền chính sách nhưng nghe kỹ lại thì là cái giọng kéo dài lê thê, lúc trầm lúc bổng ê a tụng kinh. Đúng là xứ Phật. Nhưng các ông sư thức quá sớm truyền giảng đạo pháp giữa cái giờ mọi người đang an giấc thì thật là cả một điều vô lý và phiền toái.

Sáng sớm hôm đó, tôi đi thuyền ngược dòng Mekong vĩ đại viếng động Pak Ou cách Luang Prabang 25 ki lô mét đường sông. Những làn gió mát lạnh thổi phần phật trên sông làm cho tôi tỉnh ngủ. Dòng sông chảy êm đềm mang phù sa đục ngầu như sông Tiền, sông Hậu ở vùng hạ lưu, nhưng cảnh quan ở đây thật hùng vĩ và hoang sơ. Trừ những chiếc tàu nhỏ hay ghe tam bản chở du khách ngược xuôi, không một bóng dáng của những chiếc ghe chài to lớn, không có tiếng còi hụ điếc tai, tiếng động cơ bình bịch ồn ào liên tục trên vùng hạ lưu Campuchia, Việt Nam hay những hoạt động náo nhiệt như chợ nổi vùng Hậu Giang.

Không gian chìm đắm trong im lặng với trời mây sông nước… Dọc hai bên bờ lác đác vài căn nhà sàn trên bờ cao cao, lẩn khuất trong những bụi tre già rậm rạp và tàn cây xanh mờ mờ, hay đứng trơ trọi giữa những luống rau hình bậc thang kéo dài đến tận bờ. Giữa dòng sông thỉnh thoảng nổi lên một cồn cát dài hay cù lao lổm chổm những tảng đá thật to, phân chia sông thành hai dòng chảy. Xa xa, loang loáng trong ánh bình minh một chiếc thuyền con của ngư dân đang giăng câu bắt cá. “Yên ba thâm xứ hữu ngư châu”. Đâu đó bên bờ, một đám trẻ con nghịch ngợm tắm sông nhảy đì đùng. Tôi chợt mỉm cười, nhớ lại thời thơ ấu tôi cũng là một đứa như đám trẻ con kia, đã từng “ôm nước vào lòng” cùng trên một dòng sông.

Pak Ou là một động thiên nhiên trong một núi đá bên bờ sông Nam Ou, một chi lưu khác của Mekong. Pak Ou gợi cho tôi hình ảnh của động Hương Tích chùa Hương, chỉ khác là ở đây có rất nhiều tượng Phật cổ. Gần 4.000 tượng Phật lớn nhỏ khác nhau tạc theo phong cách điêu khắc Lào. Tiếc rằng, số lượng du khách quá nhiều làm mất đi sự tôn nghiêm của một nơi hành hương truyền thống.

Nếu không có con đường sông Mekong hùng vĩ để chiêm ngưỡng, thì chuyến đi Pak Ou sẽ rất đơn điệu và phí nhiều thời gian. Mekong thật sự hấp dẫn hơn Pak Ou. Tôi trở về Luang Prabang thì đã quá trưa. Những tiếng “chách bùm, chách bùm bùm” của điệu “lum vong” lại nổi lên từ hai đám cưới được tổ chức ra đến tận giữa đường. Một người say sưa hát karaoke chúc mừng cô dâu chú rể, những cặp nam nữ say sưa nhảy theo điệu nhạc “chách bùm” mộc mạc. Trong cái nắng ấm của mùa đông xứ Lào, Luang Prabang cổ kính thật giản dị và thanh bình…

Đêm hôm đó tôi đáp chuyến xe đêm đi Vientiane, thủ đô Lào, cách cố đô Luang Prabang 430 ki lô mét về phía Nam. Anh quản lý nhà khách bán cho tôi cái vé xe VIP. Với số tiếng Anh giới hạn, anh người Lào lanh lợi này cam đoan với tôi đây là xe “chất lượng cao”, có nhà vệ sinh trong xe, máy điều hòa, có ghế ngồi ngả lưng như ghế máy bay, nước uống và thức ăn nhẹ được phục vụ miễn phí.

Trong đầu tôi tưởng tượng ra chiếc xe buýt cao cao giống như những chiếc xe khách hoành tráng, sơn phết rất đẹp mắt của Trung Quốc đến từ Côn Minh tỉnh Vân Nam, nhẹ nhàng lướt trên đường phố Luang Prabang. Ừ! Tại sao không? Tôi mừng rỡ, vừa trả 130.000 kíp cho cái vé vừa liên tục “Kop chai! Kop chai lai lai!” (Cám ơn! Cám ơn nhiều lắm!). Tôi đã quá mệt với chuyến xe đường đèo Phonsavanh, trả thêm vài chục ngàn kíp đi xe VIP quả là đáng đồng tiền bát gạo! Anh ta kêu xe tuktuk (giống xe lam ở Sài Gòn trước 1975) chở tôi ra ngoài bến xe.

Trong cái tranh sáng tranh tối hoàng hôn, tôi giương to đôi mắt đi loanh quanh tìm chiếc xe buýt “hoành tráng” có chữ VIP giữa đám xe khách viết chữ Lào loằng ngoằng. Tìm không ra, tôi vội đến chỗ bán vé, vừa chỉ vào tấm vé vừa bảo ông bán vé “VIP Vientiane. VIP Vientiane”. Ông bán vé hiểu ý, trả lời “No VIP. VIP Vientiane in the morning!!!”. Ý ông nói là xe VIP chỉ đi buổi sáng, rồi chỉ cho tôi chiếc xe khách tồi tàn đi Vientiane tối hôm đó. Chuyến xe cuối cùng trong ngày. Biết đã bị phỉnh vài chục ngàn kíp (vài đô la), tôi hơi bực mình, nhưng ít ra vé đi Vientiane là vé thật! Anh chàng quản lý nhà khách nói “lèo” nhưng vẫn còn lương tâm!

0 comments:

 
by Templates para novo blogger 2007